Tiêu điểm tháng
 
Quan điểm của bạn về Bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới?
Rất cần thiết
Cần thiết
Không cần thiết
 
 
Các doanh nghiệp hội viên
VIDEO

Chặt chân, chặt tay để trục lợi bảo hiểm

(Nguồn VTV.vn)

Nâng cao nhận thức của người dân về các loại hình bảo hiểm

(Nguồn HTV9)

Phóng Sự

Giải pháp ngừa rủi ro cho tương lai

(Nguồn VOV1.VOV.VN)

 
 
Thư viện pháp luật
Tổng hợp ý kiến đóng góp cho dự thảo Nghị định về bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc




Bộ Tài chính hiện đang được Chính phủ giao xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi Nghị định số 130/2006/NĐ-CP ngày 08/11/2006 của Chính phủ quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc và Điều 2 Nghị định số 46/2012/NĐ-CP ngày22/5/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy, chữa cháy và Nghị định số 130/2006/NĐ-CP ngày 08/11/2006 của Chính phủ quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc. 

Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam đã tiến hành tổng hợp ý kiến đóng góp của các hội viên cho dự thảo Nghị định, dưới đây là một số nội dung chính:

1.       Điều 4. Đối tượng được bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc

          Đề xuất bổ sung thêm:

          “b. Các loại hàng hóa, vật tư (bao gồm cả nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm), tài sản khác.

Những tài sản trên được bảo hiểm khi giá trị của tài sản tính được thành tiền”

Lý do: Bổ sung thêm các hạng mục tài sản khác để Người được bảo hiểm có thể yêu cầu tham gia Bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc (BHCNBB) cho tài sản có giá trị ngoài các hàng hóa, vật tư, kiến trúc thông thường.

 

2.       Điều 5. Số tiền bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc tối thiểu

Đề xuất bỏ chữ “tối thiểu” trên tiêu đề, với lý do đây là quy định việc xác định số tiền tham gia bảo hiểm, nội dung quy định đã có 03 lựa chọn để xác định số tiền bảo hiểm cần thiết cho việc ký kết hợp đồng bảo hiểm.

 

3.       Đề xuất bổ sung thêm “Điều 6. Cơ sở giải quyết bồi thường” trong Nghị định với nội dung như sau:

“Điều 6. Cơ sở giải quyết bồi thường

1.   Mức khấu trừ

Mức khấu trừ là số tiền mà bên mua bảo hiểm phải tự chịu trong mỗi sự kiện bảo hiểm

2.   Bảo hiểm dưới giá trị

Hợp đồng bảo hiểm dưới giá trị là hợp đồng trong đó số tiền bảo hiểm thấp hơn giá trị của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng.

Trong trường hợp Hợp đồng bảo hiểm dưới giá trị được giao kết, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị được xác định theo nguyên tắc quy định tại điều 5 Nghị định này.

3.   Bảo hiểm trùng.

Hợp đồng bảo hiểm trùng là trường hợp bên mua bảo hiểm giao kết hợp đồng bảo hiểm với hai doanh nghiệp bảo hiểm trở lên để bảo hiểm cho cùng một đối tượng, với cùng điều kiện và sự kiện bảo hiểm.

Trong trường hợp các bên giao kết hợp đồng bảo hiểm trùng, khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, mỗi doanh nghiệp bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm đã thỏa thuận trên tổng số tiền bảo hiểm của tất cả các hợp đồng mà bên mua bảo hiểm đã giao kết. Tổng số tiền bồi thường của các doanh nghiệp bảo hiểm không vượt quá giá trị thiệt hại thực tế của tài sản.

4.   Căn cứ bồi thường

Số tiền bảo hiểm mà Doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho người được bảo hiểm được xác định trên cơ sở giá trị của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm, nơi xảy ra tổn thất và mức độ thiệt hại thực tế, trừ khi có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm. Chi phí để xác định giá trị và mức độ thiệt hại do doanh nghiệp bảo hiểm chịu.

Số tiền bồi thường mà doanh nghiệp bảo hiểm trả cho người được bảo hiểm không vượt quá số tiền bảo hiểm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.

Ngoài số tiền bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm còn phải trả cho người được bảo hiểm những chi phí cần thiết, hợp lý để đề phòng, hạn chế tổn thất và những chi phí phát sinh mà người được bảo hiểm phải chịu để thực hiện chỉ dẫn của doanh nghiệp bảo hiểm.

5.   Hình thức bồi thường

Bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có thể thỏa thuận một trong các hình thức bồi thường sau đây:

a)      Sửa chữa tài sản bị thiệt hại;

b)      Thay thế tài sản bị thiệt hại bằng tài sản khác;

c)      Trả tiền bồi thường;

Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm không thỏa thuận được về hình thức bồi thường thì việc bồi thường sẽ được thực hiện bằng tiền.

Trong trường hợp bồi thường quy định tại điểm b và điểm c trong khoản 4 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền thu hồi tài sản bị thiệt hại sau khi đã thay thế hoặc bồi thường toàn bộ cho tài sản.”

Lý do: Đây là các quy định rất quan trọng (đã được quy định tại Luật Kinh doanh bảo hiểm) và là nguyên lý chung của hợp đồng bảo hiểm tài sảni, nếu Nghị định về BHCNBB không quy định thì phía người được bảo hiểm sẽ gặp khó khăn khi tham gia giao kết và thực hiện Hợp đồng bảo hiểm.

 

4.       Điều 7. Loại trừ trách nhiệm bảo hiểm

Đề xuất bổ sung các điểm loại trừ sau:

1. Doanh nghiệp bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thường bảo hiểm nếu thiệt hại  xảy ra do một trong những nguyên nhân sau đây gây ra:

a)      Động đất, núi lửa phun hay những biến động khác của thiên nhiên.

b)      Tài sản tự lên men hoặc tự toả nhiệt.

c)      Tài sản chịu tác động của một quá trình xử lý có dùng nhiệt.

d)      Sét đánh trực tiếp vào tài sản được bảo hiểm nhưng không gây cháy, nổ.

e)      Nguyên liệu vũ khí hạt nhân gây cháy, nổ.

f)       Thiệt hại xảy ra đối với máy móc, thiết bị điện hay các bộ phận của thiết bị điện do chạy quá tải, quá áp lực, đoản mạch, tự đốt nóng, hồ quang điện hay rò điện do bất kỳ nguyên nhân nào, kể cả do sét đánh. Tuy nhiên, điểm loại trừ này chỉ áp dụng đối với chính những máy móc, dụng cụ thiết bị điện hoặc những bộ phận của thiết bị điện chịu tác động trực tiếp của những hiện tượng nêu trên chứ không áp dụng với những máy móc, dụng cụ và thiết bị điện khác bị phá huỷ, thiệt hại do cháy phát sinh từ chính các máy móc thiết bị nói trên.

g)      Những thiệt hại do hành động cố ý gây cháy, nổ của bên mua bảo hiểm nhằm mục đích đòi bồi thường thiệt hại theo Hợp đồng bảo hiểm.

h)      Những thiệt hại do bên mua bảo hiểm cố ý vi phạm các quy định về phòng cháy và chữa cháy để xảy ra cháy, nổ.

i)       Hàng hoá nhận uỷ thác hay ký gửi trừ khi những hàng hoá đó được xác nhận trong Giấy chứng nhận bảo hiểm là được bảo hiểm và bên mua bảo hiểm trả thêm phí bảo hiểm theo quy định.

j)       Tiền, kim loại quý, đá quý, chứng khoán, thư bảo lãnh, tài liệu, bản thảo, sổ sách kinh doanh, tài liệu lưu trữ trong máy tính điện tử, bản mẫu, văn bằng, khuôn mẫu, bản vẽ, tài liệu thiết kế, trừ khi những hạng mục này được xác nhận trong Giấy chứng nhận bảo hiểm.

k)      Chất nổ, trừ khi được xác nhận là được bảo hiểm trong Giấy chứng nhận bảo hiểm.

l)       Những tài sản mà vào thời điểm xảy ra tổn thất, được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm hàng hải hoặc thuộc trách nhiệm bảo hiểm theo đơn bảo hiểm hàng hải, trừ phần thiệt hại vượt quá trách nhiệm bồi thường theo đơn bảo hiểm hàng hải.

m)     Những thiệt hại do cháy, nổ gây ra cho bên thứ ba.

n)      Những thiệt hại đối với dữ liệu, phần mềm và các chương trình máy tính.

o)      Những thiệt hại do những biến cố về chính trị, an ninh và trật tự an toàn xã hội gây ra.

p)      Tài sản bị đốt cháy theo lệnh của bất kỳ cơ quan công quyền nào.

q)      Bất kỳ thiệt hại gây ra bởi hoặc thông qua hoặc do hậu quả của việc cháy rừng, bụi cây, đồng cỏ, hoang mạc, rừng nhiệt đới dù là ngẫu nhiên hay không  hoặc đốt cháy với mục đích làm sạch ruộng đồng, đất đai.

r)       Cháy do lửa ngầm dưới đất.

s)      Những trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm khác theo quy định của pháp luật hoặc do các bên thỏa thuận.

2.  Đối với những trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm nêu trên, nếu bên mua bảo hiểm có nhu cầu bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm thì các bên vẫn có thể thỏa thuận không loại trừ các trách nhiệm bảo hiểm nêu trên và thỏa thuận phí bảo hiểm bổ sung tại Hợp đồng bảo hiểm.

Lý do: Các điểm loại trừ trên là loại trừ cơ bản trong tất cả các hợp đồng bảo hiểm Cháy nổ và bảo hiểm tài sản được áp dụng trên toàn thế giới, các DNBH tại Việt Nam phải áp dụng thì mới đảm bảo việc phân tán tái bảo hiểm cho các hợp đồng bảo hiểm. Ngoài ra nghị định 130/2006/NĐ-CP hiện tại cũng đang áp dụng các điểm loại trừ đầy đủ nên giữ nguyên và bổ sung thêm, không nên lược bỏ bớt.

 

5.       Điều 11. Nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm

Đề xuất điều chỉnh bổ sung nội dung như sau:

+      Xóa bỏ cụm từ “… theo yêu cầu của Doanh nghiệp bảo hiểm” trong Khoản 4.

+      Bổ sung thêm “Khoản 7. Cung cấp đầy đủ trung thực thông tin liên quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm”

Lý do

+      Nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm là phải thông báo cho DNBH trường hợp nêu trong khoản 4, tuy nhiên DNBH không biết được những trường hợp này để đưa ra yêu cầu. Nếu quy định như dự thảo thì Bên mua bảo hiểm sẽ quy trách nhiệm cho DNBH và không thực hiện trách nhiệm của họ.

+      DNBH đã có trách nhiệm yêu cầu bên mua bảo hiểm về việc cung cấp thông tin, Nghị định cần đưa trách nhiệm của bên mua bảo hiểm phải cung cấp thông tin cho DNBH.

 

6.       Điều 12. Quyền của doanh nghiệp bảo hiểm

Đề xuất điều chỉnh bổ sung nội dung như sau:

+      Bố sung thêm “Khoản 3 Điểm d) Từ chối bán bảo hiểm trong trường hợp Bên mua bảo hiểm không thực hiện các công việc cải thiện hệ thống trang thiết bị Phòng cháy chữa cháy theo nội dung khuyến nghị của cơ quan cảnh sát Phòng Cháy chữa cháy trong vòng 03 tháng kể từ ngày lập biên bản kiểm tra.”         

+      Sửa “Khoản 4. Thực hiện chế tài bồi thường bảo hiểm một phần hoặc toàn bộ số tiền bồi thường trong trường hợp cơ sở có nguy hiểm về cháy nổ không tuân thủ đúng các quy định về phòng cháy, chữa cháy theo quy định của pháp luật, hoặc không thực hiện đầy đủ, đúng hạn các kiến nghị của Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy tại biên bản kiểm tra về phòng cháy, chữa cháy là nguyên nhân gây ra rủi ro cháy, nổ.”

Lý do:

+      Nâng cao ý thức trách nhiệm của Bên mua bảo hiểm trong việc phòng chống cháy nổ.

+      Các nguyên nhân gây ra cháy, nổ với nhiều mức độ nghiêm trọng khác nhau, do vậy việc áp đặt 1 tỷ lệ chế tài bồi thường là không hợp lý. Cần áp dụng chế tài nhiều mức khác nhau tùy mức độ nguyên nhân, việc Bên mua bảo hiểm không tuân thủ đúng các quy định về phòng cháy chữa cháy (PCCC) cũng cần được áp dụng việc chế tài bồi thường chứ không chỉ việc không thực hiện đầy đủ các kiến nghị theo biên bản của Cảnh sát PCCC.

 

7.       Điều 14. Trích nộp kinh phí đóng góp từ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc

Đề xuất bố sung “Điểm 2. Mức trích nộp kinh phí đóng góp từ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc là 1% tổng số phí bảo hiểm cháy nổ bắt buộc theo mức giữ lại của các hợp đồng bảo hiểm gốc trong năm tài chính trước liền kề năm thực hiện trích nộp của doanh nghiệp bảo hiểm”.

Lý do: Hầu hết các hợp đồng BHCNBB đều có số tiền bảo hiểm lớn, các Doanh nghiệp baỏ hiểm phải tái bảo hiểm cho các nhà tái bảo hiểm trong nước và nước ngoài phần lớn, các DNBH không thu hồi được khoản kinh phí đóng góp quỹ BHCNBB từ các nhà tái bảo hiểm, do vậy các DNBH chỉ có thể nộp kinh phí đóng góp BHCNBB trên phí thực giữ lại.

 

8.       Điều 15. Quản lý, sử dụng nguồn kinh phí đóng góp từ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc

Đề xuất điều chỉnh bổ sung nội dung như sau

+      Bố sung Khoản 2. “… để lập kế hoạch và báo cáo việc sử dụng nguồn kinh phí…”

+      Sửa Mục a Khoản 3 “Đầu tư trang thiết bị phương tiện….. không vượt quá 30%”  thay cho 40%.

+      Sửa Mục c Khoản 3 “Hỗ trợ công tác điều tra nguyên nhân vụ cháy…. Không vượt quá 30%” thay cho 20%

Lý do:  Các DNBH muốn nắm được tình hình thực hiện việc thu chi kinh phí đóng góp BHCNBB của Cục cảnh sát PCCC thông qua Hiệp hội bảo hiểm.

 

9.       Điều 17. Trách nhiệm của Bộ Công an

Đề xuất điều chỉnh bổ sung nội dung như sau:

+      Bổ sung Mục b Khoản 2 “… xây dựng kế hoạch và báo cáo hàng năm sử dụng kinh phí đóng góp…”

+      Bổ sung  Mục c Khoản 2 “… trong phạm vi cả nước trên trang web của Cục cảnh sát phòng cháy chữa cháy và gửi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam”

+      Bổ sung Khoản 4 trong Điều này “4. Trường hợp xảy ra cháy, nổ, cơ quan cảnh sát phòng cháy chữa cháy có trach nhiệm ra kết luận nguyên nhân thiệt hại theo yêu cầu của Doanh nghiệp bảo hiểm trong thời gian sớm nhất có thể.”

Lý do:

+      Các DNBH muốn nắm được tình hình thực hiện việc thu chi kinh phí đóng góp BHCNBB của Cục cảnh sát PCCC thông qua Hiệp hội bảo hiểm.

+      Các DNBH cần tra cứu các thông tin về danh sách các cơ sở phải mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc trên trang thông tin điện tử.

+      Các DNBH cần có kết luận của cơ quan cảnh sát PCCC để làm căn cứ giải quyết bồi thường BHCNBB.

 

Toàn văn hồ sơ dự thảo được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ: www.chinhphu.vn mục Lấy ý kiến nhân dân về dự tharp VBPL